Đề xuất các giải pháp, mô hình hỗ trợ nhóm phụ nữ di cư

• 02/03/2022 15:48

(HMC) – Sáng 2/3, tại TPHCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Nhóm phụ nữ di cư: Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp, mô hình hỗ trợ”. Chủ trì hội thảo gồm TS. Bùi Thị Hòa, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam; PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới.

Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Huyền Mai

Thu nhập trung bình của phụ nữ di cư vẫn còn thấp

TS. Bùi Thị Hòa phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Huyền Mai

Theo TS. Bùi Thị Hòa, hiện nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến người dân, an sinh xã hội, trong đó có công tác hỗ trợ phụ nữ. Tuy nhiên, trên thực tế, mức độ bao trùm, tiếp cận chính sách của các nhóm dân số vẫn còn sự chênh lệch. Tại nhóm người di cư, nhiều khảo sát đã chứng minh, phụ nữ di cư gặp nhiều khó khăn hơn trong việc có điều kiện an toàn sinh sống và làm việc.

Báo cáo “Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất giải pháp bảo vệ và hỗ trợ một số nhóm phụ nữ đặc thù: Một số phát hiện chính từ nghiên cứu khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố năm 2021” cho thấy, thu nhập trung bình của nhóm phụ nữ di cư chỉ 3.102.857đ/người/tháng, hầu hết đều bị giảm do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, khảo sát ghi nhận nhóm phụ nữ di cư chưa đào tạo chiếm đến 83,7%, đào tạo ngắn hạn chiếm 5,7%, phần nhỏ là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.

Liên quan đến các chính sách y tế, chăm sóc, bảo vệ, tại nhóm đối tượng này, mức bao phủ và sử dụng Bảo hiểm y tế (BHYT) được cho là thấp nhất, tỉ lệ sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh chỉ đạt 48,9%. Có 67,3% số người khảo sát trả lời không nhận được hỗ trợ từ nơi di cư đến với nhiều nguyên nhân như không biết đề nghị hỗ trợ với ai, không thuộc đối tượng được hỗ trợ/ không đăng kí tạm trú, không có cá nhân/tổ chức nào quan tâm, hỗ trợ.

Theo PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, Viện Trưởng Viện nghiên cứu Gia đình và Giới, trước những khó khăn gặp phải, điều phụ nữ di cư mong muốn nhiều nhất là được dạy nghề, tạo việc làm; phát triển kinh tế, tăng thu nhập; hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ khó khăn về tài chính. Về chăm sóc sức khỏe, 40,7% phụ nữ di cư mong muốn được sử dụng thẻ BHYT ở nơi đăng ký tạm trú; được cải thiện môi trường sống ở nơi di cư; hoàn thiện các thủ tục hành chính để hỗ trợ việc tiếp cận với các dịch vụ y tế, an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe.

PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, Viện Trưởng Viện nghiên cứu Gia đình và Giới phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Huyền Mai

Đặt vấn đề phụ nữ lao động di cư lên bàn nghị sự

Tại hội thảo, Viện Trưởng Viện nghiên cứu Đời sống Xã hội, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc cho rằng, vấn đề của người nữ lao động di cư cần phải đặt trên bàn nghị sự, trong đó chú trọng vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ.

Nhận định phụ nữ di cư là nhóm người rất dễ bị tổn thương, ông đề nghị, các chính sách và giải pháp hỗ trợ cho người phụ nữ cần thiết thực và thực tế. Đồng thời, cần hiểu hơn nhu cầu thiết thực của phụ nữ di cư để xây dựng chính sách; xây dựng cơ chế trao quyền và năng cao năng lực của phụ nữ (đảm bảo cho sinh kế bền vững).

Viện Trưởng Viện nghiên cứu Đời sống Xã hội, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc cho rằng, vấn đề của người nữ lao động di cư cần phải đặt trên bàn nghị sự, trong đó chú trọng vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ. Ảnh: Huyền Mai

Theo PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho phụ nữ di cư là rất quan trọng. Trong đó, đào tạo nghề phải gắn với tạo việc làm nhằm tăng tính hiệu quả, thiết thực. Những chính sách cho phụ nữ di cư như vấn đề nhà ở, sử dụng dịch vụ công, sử dụng bảo hiểm y tế khám chữa bệnh,… cũng cần được triển khai một cách cụ thể, thiết thực, phù hợp với tính chất việc làm của nhóm đối tượng này. Cùng với đó, nên mở rộng các khu vui chơi, thể thao, giải trí miễn phí để người lao động có thể tham gia.

TS. Bùi Thị Hòa, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam nhận định, nhóm phụ nữ đặc thù (phụ nữ di cư, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ cao tuổi) đang gặp một khoảng trống về chính sách hoặc chính sách chưa tới được với họ. Nhằm hỗ trợ nữ lao động di cư được tiếp cận nhiều hơn với chính sách an sinh xã hội, các cơ quan chức năg cần hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, tạo độ bao phủ rộng trong bảo vệ quyền lợi cho lao động di cư.

“Từ những căn cứ thực tiễn, căn cứ khoa học của đề tài, chúng tôi tiếp tục đề xuất lồng ghép giới trong xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có những chính sách pháp luật liên quan đến an sinh xã hội, các đối tượng phụ nữ đặc thù. Đồng thời, đưa các mô hình hay để nhân rộng trong hệ thống Hội địa phương để hỗ trợ nhóm phụ nữ đặc thù", bà cho biết